Rối loạn tăng động – giảm chú ý

Đề tài được thực hiện bởi
PGS.TS.VÕ VĂN BẢN
BỆNH VIỆN VIỆT PHÁP HÀ NỘI

1/ Khái niệm về Tăng động giảm chú ý:

Rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder) là một trong những rối loạn phát triển tâm thần kinh ở trẻ em. Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) dùng để mô tả những trẻ thường xuyên có các triệu chứng giảm chú ý, tăng hoạt động mang tính xung động không phù hợp lứa tuổi, những triệu chứng này ảnh hưởng đến các hoạt động chủ yếu trong đời sống hằng ngày, thường thể hiện ít nhất trong 2 môi trường (ở nhà, ở trường, khi làm việc, lúc vui chơi),

Chẩn đoán ADHD không khó, nhưng để điều trị hiệu quả không dễ và rất cần sự quan tâm, kiên nhẫn của cha mẹ cùng với sự phối hợp các phương pháp điều trị hợp lý của nhà trị liệu,

Khoảng 3-5% ở tuổi đến trường bị ADHD. Rối loạn ADHD giảm cùng với sự lớn lên của trẻ. Theo Costello và cộng sự (2003), tỷ lệ 2,2% ở tuổi 9; 1,4% ở tuổi 12 và 0,3% ở tuổi 16. Trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái, tỷ lệ Nam/Nữ trong số các trẻ đến khám bệnh là từ 6/1 đến 9/1; ở trong cộng đồng là 2/1 đến 3/1.

Năm 1845, Heinrich Hoffmann, một bác sĩ thần kinh người Đức đã viết trong một cuốn sách về tăng động ở trẻ em và đây là cuốn sách được biết đầu tiên về trẻ tăng động.

Các triệu chứng ADHD được mô tả như là một rối loạn vào năm 1902 bởi một thầy thuốc người Anh tên là George Still, ông cho rằng các triệu chứng này là do kém “tự kềm chế” và “ kiểm soát đạo đức bị thiếu” được đăng  trong tạp chí Lancet.

Khoảng 50 năm trước người ta cho rằng nguyên nhân của ADHD là do não bị huỷ hoại. Tuy nhiên những nghiên cứu sau này cho thấy rằng chỉ có 5% trẻ có ADHD là có những tổn thương thần kinh hay động kinh. Vì thế tổn thương não không có ý nghĩa trong hầu hết trẻ em có rối loạn này (Barkley,1990).

2/ Bệnh nguyên và bệnh sinh ADHD:

Nhiều người cho rằng ADHD là do rối loạn chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitters), trong đó nhấn mạnh đến sự thiếu hụt của Dopamine và Norepinephrine ở các vùng não có trách nhiệm điều chỉnh hành vi và sự chú ý.

Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh đến yếu tố di truyền: nếu một trẻ trong cặp song sinh cùng trứng bị ADHD thì nguy cơ trẻ còn lại bị ADHD từ 75% đến 97%. Nghiên cứu về bộ gène SNP (single-nucleotide polymorphism) trong 5 rối loạn tâm thần (ADHD, Tâm thần phân liệt, Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, Trầm cảm nặng, Autism) (2).

ADHD liên quan đến cấu trúc của não bộ, chứ không đơn thuần chỉ là rối loạn hành vi. Kết quả nghiên cứu của Robert Preidt và cs về hình ảnh MRI trên 1.700 người bị ADHD và 1.500 người bình thường tuổi từ 4 – 63 đã cho thấy 5 vùng não ở người ADHD nhỏ hơn binh thường: hạnh nhân, hồi hải mã và 3 vùng não trong thể vân (nhân đuôi, nhân bèo sẫm và nhân Accumbens) tham gia vào hệ thống phần thưởng của não và trong quá trình xử lý dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh giúp kiểm soát động lực và cảm xúc (3).

Ngoài ra các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ADHD: Tổn thương thần kinh xảy ra trước hoặc sau khi sinh, Hội chứng rượu bào thai, chế độ ăn uống, suy dinh dưỡng, vai trò gia đinh và xã hội,..

3/ Chẩn đoán ADHD:

     Trẻ bị ADHD thường có hai nhóm triệu chứng, đó là các triệu chứng về tăng đông và giảm chú ý, những triệu chứng này phải thường xuyên xảy ra hoặc liên tục xảy ra, ảnh hưởng đến hoạt động chủ yếu trong đời sống hàng ngày.

3.1. Các triệu chứng về tăng động:

  • Luôn cựa quậy chân tay hay vặn mình khi ngồi,
  • Thường rời bỏ chỗ ngồi trong lớp một cách vô tổ chức,
  • Thường chạy nhảy hay leo trèo quá mức,
  • Thường không thể chơi hay hòa mình vào những hoạt động giải trí một   cách nhẹ nhàng,
  • Thường luôn di chuyển hoặc hành động như thể đang lái môtô,
  • Nói quá nhiều,
  • Thường xuyên bật ra câu trả lời khi chưa nghe hết câu hỏi,
  • Thiếu tính kiên nhẫn, gặp khó khăn khi phải chờ đợi lâu,
  • Hay quấy rầy hoặc làm gián đoạn công việc của người khác.

3.2. Các triệu chứng về giảm chú ý:

  • Không chú ý đến các chi tiết,
  • Khó duy trì sự tập trung,
  • Không lắng nghe,
  • Không tuân thủ sự hướng dẫn,
  • Gặp khó khăn trong việc tổ chức, sắp xếp các hoạt động,
  • Né tránh các công việc đòi hỏi sự cố gắng trong thời gian dài
  • Đánh mất các vật dụng cần thiết để làm việc,
  • Dễ sao lãng,
  • Hay quên các công việc hàng ngày.

3.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán ADHD theo DSM-V:

  • Tuổi khởi phát: Theo DSM-V, tuổi khởi phát là trước 7 tuổi,
  • Triệu chứng xuất hiện theo lứa tuổi:
  1. Có 5 hoặc nhiều hơn 5 triệu chứng cần thiết khi trẻ trên  17 tuổi
  2. Có 6 hoặc nhiều hơn 6 triệu chứng khi trẻ 16 tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn
  • Các triệu chứng xuất hiện ít nhất trong vòng 6 tháng và xuất hiện ít nhất trong 2 môi trường,
  • Các triệu chứng phải ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày

3.4. Các thể ADHD: Có ba thể ADHD:

  • Thể giảm chú ý: đòi hỏi trẻ phải hội đủ đủ ≥6/9 triệu chứng. Những triệu chứng thuộc dạng này phải xuất hiện trong vòng 6 tháng. Đáp ứng tiêu chuẩn giảm chú ý nhưng không phải tăng vận động – xung động
  • Thể tăng vận động – xung động: đòi hỏi trẻ phải hội đủ ≥6/9 triệu chứng. Những triệu chứng thuộc dạng này phải xuất hiện trong vòng 6 tháng. Đáp ứng tiêu chuẩn tăng vận động – xung động nhưng không phải giảm chú ý
  • Thể kết hợp: trẻ phải hội đủ tối thiểu 6 tiêu chuẩn của nhóm 1 và 6 tiêu chuẩn của nhóm 2 nêu trên và những triệu chứng thuộc dạng kết hợp phải xuất hiện trong vòng 6 tháng.

Mức độ nặng nhẹ (Severity levels):

  • Nhẹ (mild):                        đạt 5 tiêu chuẩn 
  • Vừa phải (moderate):         đạt 6 – 7 tiêu chuẩn
  • Nghiêm trọng (severe):       đạt 7 tiêu chuẩn trở lên.

4/ Các phương pháp can thiệp:

4.1. Điều trị bằng thuốc:

  • Thuốc kích thích tâm thần (Psychostimulants) được xem là thuốc đặc trị cho ADHD với kết quả 70-90% đáp ứng  tốt với thuốc. Ở Viêt Nam hiện có Concerta (Methylphenidate). Các thuốc này có tác dụng làm gia tăng cả hai chất dẫn truyền thần kinh là dopamine và norepinephrine, có khả năng cải thiện kiểm soát xung động và tăng hoạt động, cũng như chú ý.
  • Thuốc an thần kinh: Risperdal, Aripirazole (Aritero)
  • Các thuốc dòng Norepinephrine: Atomoxetine (Strattera)
  • Các thuốc chống trầm cảm: Amitrityline; Zoloft;
  • Các thuốc điều trị cao huyết áp: Clonidine & Guanfacine
    1. Các phương pháp can thiệp tâm lý xã hội
  • Giáo dục cha mẹ về chứng ADHD
  • Huấn luyện cho cha mẹ về quản lý trẻ:
    1. Trẻ em (<11 tuổi 65-75%  đáp ứng)
    2. Thanh thiếu niên (25-30% thay đổi rõ rệt)
  • Trị liệu gia đình cho trẻ vị thành niên: Tập huấn kỹ năng giải quyết vấn đề và giao tiếp (30% có sự thay đổi)
  • Trị liệu hành vi nhận thức,
  • Đào tạo cho giáo viên về ADHD,
  • Tập huấn cho giáo viên về cách quản lý hành vi trong lớp,
  • Các dịch vụ giáo dục đặc biệt,
  • Rèn luyện thể chất,
  • Thành lâp các nhóm hỗ trợ trẻ và cha mẹ,
    1. Các phương pháp can thiệp khác:

Điều trị bằng phản hồi sinh học thần kinh (Neurofeedback) là phương pháp chữa trị ADHD có hiệu quả, một lựa chọn thay thế an toàn, không xâm lấn trong điều trị ADHD ở trẻ em và thanh thiếu niên. Tháng 11/2013, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ đã chấp thuận neurofeedback là lựa chọn điều trị cấp độ 1 hoặc hỗ trợ tốt nhất cho trẻ ADHD (2). Trong một buổi trị liệu neurofeedback, cảm biến điện não đồ được đặt trên da đầu. Hoạt động sóng não cụ thể sau đó được phát hiện, khuếch đại và ghi nhận lại. Thông tin được phản hồi ngay lập tức lên màn hình cho các nhà triệu và bệnh nhân. Nhà trị liệu thông báo cho bệnh nhân những gì họ đang quan sát và huấn luyện họ cách kiểm soát hoạt động của não để những hoạt động này đạt đến phạm vi mong muốn. Với sự giúp đỡ của một chương trình trò chơi video, trẻ em học cách duy trì hoạt động giảm sóng delta và tăng sóng beta, hoặc các trò chơi sẽ ngừng. Quá trình này được xem như “tập thể dục cho não” và làm tăng sự tập trung và chú ý của mình.

5/ Kết luận:

Tỷ lệ ADHD ở trẻ tuổi đi học rất cao, trong đó trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái với những dấu hiệu giảm chú ý và tăng động gây ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động hàng ngày. Chẩn đoán ADHD không khó, nhưng để có kết quả điều trị tốt đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa gia đình, nhà trường và nhà trị liệu với sự phối hợp các liệu pháp điều trị hợp lý. Trẻ bị ADHD, nếu được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời thường các dấu hiệu tăng động, giảm chú ý sẽ được cải thiện tốt, giúp trẻ hòa nhập tốt trong học tập và sinh hoạt.

Tài liệu tham khảo:

  1. Kristin A. DeName. Neurofeedback Therapy an Effective Non-Drug Treatment for ADHD. July 8, 2018. Psych Central.
  2. DSM Fifth Edition. DSM-5.  American Psychiatric Association. American Psychiatric Publishing. CBS Publishers & Distributors Pvt Ltd. 2013. Pg 59-66.,
  3. Robert Preidt.  Imaging Study Confirms Brain Differences in People With ADHD. HealthDay, February 16, 2017.
  4. Barkley, R.A. Issues in the Diagnosis of Attention Deficit Hyperactivity Disorder in Children. Journal of Brain and Development. 2003, 25, 77-83